This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Ngũ hành & Ngũ mệnh đặc quái

YẾU TỐ NGŨ HÀNH

Trong triết học Trung Hoa nói về Hà Đồ – Lạc Thư, đã phân định ra 2 khí Âm và Dương, khi hợp là1 chia thành 2, tách thành 4… Cũng trong Âm Dương có sinh phải có tử để quân bình sự sống, nên Tạo hóa đã ứng dụng thuyết Ngũ Hành để có sự sinh khắc trong đời sống tạo thành mối khép kín “sinh lão bệnh tử”, nên nếu thuận gọi là sinh còn nghịch gọi là khắc để có sự suy tàn, hủy diệt.
Ngũ Hành gồm có Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.
Đến nay Âm dương Ngũ Hành được chấp nhận như sau :
– Âm Dương Ngũ Hành là KHÍ của vũ trụ, là VẬN khi chúng gặp nhau sinh biến động.
Về lý thuyết của Ngũ Hành được các nhà tượng số xem là 5 yếu tố căn bản. Sự sinh khắc của ngũ hành tương quan về luật giao hợp và sự thay đổi của Âm Dương, tạo nên muôn vật trên trái đất trong chu kỳ quay tròn mãi mãi.
  • KIM thuộc những khoáng sản (than đá, kim loại)
  • MỘC là thực vật, thảo mộc (cây cối, hoa cỏ)
  • THỦY là nước (những gì thuộc dạng lỏng)
  • HỎA là lửa (những gì thuộc chất nóng)
  • THỔ là đất nói chung là khoáng chất (chưa hình thành ra khoáng sản).

Theo cổ học Trung Quốc, vua Phục Hy tìm thấy loại vật chất đầu tiên cấu tạo ra trái đất là hành Thủy.
Thứ tự của Ngũ Hành sẽ là Thủy – Hỏa – Mộc – Kim – Thổ.
Quan niệm trên cũng phù hợp với kết luận của các nhà khoa học châu Âu, khi họ khẳng định tìm thấy nguyên tố đầu tiên trong vũ trụ là nước tức hành Thủy, tiếp sau mới đến các hành Hỏa, Mộc, Kim và Thổ.
Trong khi các nhà tượng số lại thống nhất sắp xếp ngũ hành theo thứ tự theo vòng tương sinh : Mộc – Hỏa – Thổ – Kim – Thủy


Hình 1 theo đường tròn mũi tên là tương sinh, Thổ đứng giữa để xuất phát và thu về, còn có nghĩa đứng đầu 4 hành kia. Còn tương khắc với thứ tự : Mộc – Thổ – Thủy – Hỏa – Kim  theo đường thẳng của mũi tên
Ngũ hành là bản thể của Âm Dương, là sự tồn tại các dạng vật chất. Khi vật chất bị bốc cháy thành hơi bay vào bầu trời thành ion điện trường đó là Dương. Các ion kết tụ thành các nguyên tố hóa học khác để tồn tại trên trái đất đó là Âm, khi chúng gặp nhau sinh ra hiện tượng sấm sét.

BIỆN CHỨNG NGŨ HÀNH

A/- VƯỢNG TƯỚNG HƯU TÙ TỬ
Sự sinh khắc tùy thuộc vào bản chất riêng, như Mộc sinh Hỏa hay Mộc khắc Kim, là sinh khắc một chiều, thực tế khi phân tích qua 5 bậc Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử (bảng trang bên) ta tính được độ số cát hung như sau  :
Thí dụ : Mậu Dần ngũ hành thuộc THỔ, thì hành Kim được lợi (vượng, do Thổ sinh Kim), hành Thổ thành đạt (tướng, lưỡng Thổ), hành Hỏa bị diệt (hưu, Hỏa sinh Thổ), hành Thủy bị khắc (tù, Thổ khắc Thủy), hành Mộc được sinh (tử, Mộc khắc Thổ), theo thuyết biện chứng :
  • Thổ sinh Kim : Kim được sinh còn Thổ hao tổn, Thổ gặp sinh xuất.
  • Thổ với Thổ : lưỡng thổ thành sơn, ở đây là Thổ được bồi đắp thêm.
  • Hỏa sinh Thổ : Hỏa đốt cháy Mộc nên cả 2 Hỏa, Mộc đều tổn hại cho Thổ được sinh, tức Thổ được sinh nhâp.
  • Thổ khắc Thủy : Thổ được tốt còn Thủy bị hao. Thổ gặp khắc xuất.
  • Mộc khắc Thổ : Thổ bị hao tổn còn Mộc được hoá sinh (Tử có nghĩa là con, mới được sinh), nên Thổ bị khắc nhập.

Qua thí dụ trên, sự tương sinh hay tương khắc chỉ có 1 chiều : Thổ sinh được Kim chứ Kim không sinh được Thổ; Thổ khắc Thủy chứ Thủy không khắc được Thổ…
Hành được sinh (sinh nhập) có lợi : Kim được Thổ sinh thì Kim được lợi, còn Thổ thì hao tổn (sinh xuất).
Hành bị khắc (khắc nhập) thất lợi còn hành khắc cũng hao tổn, như Thổ là hành khắc (khắc xuất), còn Thủy là hành bị khắc (khắc nhập).
Theo lý thuyết được Sinh nhập, Khắc xuất là tốt. Còn bị Sinh xuất, Khắc nhập là xấu.
Nhưng còn tính chất hóa hợp xung của Thiên Can, Địa Chi nên không vì những điều trên phải lo lắng.
Tương sinh có nghĩa nuôi dưỡng, thúc đẩy, trợ giúp; còn tương khắc có nghĩa ràng buộc, khắc chế. Nhưng xét theo Vượng Tướng Hưu Tù Tử sẽ có ứng dụng khác nhau :
Gặp tương sinh chưa phải là tốt, thí dụ :
  • Kim dựa vào Thổ sinh (Thổ sinh Kim), nhưng Thổ vượng thì Kim bị vùi lấp, mất tích.
  • Thổ dựa vào Hỏa sinh (Hỏa sinh Thổ), nhưng Hỏa vượng thì Thổ trở thành khoáng sản than đá, kim loại.
  • Hỏa dựa vào Mộc sinh (Mộc sinh Hỏa), nhưng Mộc vượng thì Hỏa đang thuộc hưu, tù, tử̀ không thể bốc lên đốt cháy được cây to.
  • Mộc dựa vào Thủy sinh (Thủy sinh Mộc), nhưng nhưng Thủy vượng thì Mộc trốc gốc phải trôi giạt.
  • Thủy dựa vào Kim sinh (Kim sinh Thủy), nhưng Kim vượng thì Thủy đục nước có nhiều tạp chất đầy nguy hại.

Cho nên gặp Tương khắc chưa phải đã hung, thí dụ :
  • Kim khắc Mộc nhưng Mộc cứng thì Kim phải mẻ.
  • Mộc khắc Thổ nhưng Thổ khô thì Mộc chết.
  • Thổ khắc Thủy nhưng Thủy dâng cao thì Thổ bị trôi, bị sụp lở.
  • Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa vượng thì Thủy khô cạn.
  • Hỏa khắc Kim nhưng Kim nhiều thì Hỏa phải tắt.

Vì vậy hành nào là Vượng, Tướng dù bị khắc nhập hay sinh xuất đều vượt qua, còn những hành được sinh nhập hay khắc xuất đang ở thế Hưu, Tù, Tử, chuyển hung ra cát, chuyển cát thành hung.
Nhờ vậy mà chúng ta thấy sự sinh khắc của ngũ hành đều có những yếu tố xác định, như Mộc là cây cối tăng trưởng được là nhờ có Thủy (nuớc), nhưng cây không sống được ở sông mà phải sống trên đất, như vậy phải có Thổ (đất). Khi Mộc vượng thì Thủy lẫn Thổ đều gặp hao tổn. Trong ngũ hành đều có sự hỗ tương hay khống chế nhau, như Thổ bị khắc với Mộc (Mộc khắc Thổ) cần có Kim khống chế lại Mộc v.v…
Trong Hiệp hôn định cuộc cho rằng, lỡ gạo đã nấu thành cơm như Mộc lấy Thổ, để khắc chế hai mệnh Mộc và Thổ cần sinh đứa con tuổi Kim, gia đình tức khăc hòa thuận, hạnh phúc.
B/- ẤU – TRÁNG – LÃO
Ngoài yếu tố Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử, nên tính thêm độ số Ngũ Hành Ấu Tráng Lão, như Ấu mới sinh chưa thể phát huy được tính cát hung cao như Tráng đã trưởng thành, hay Lão không còn sức công phá như thời thanh niên trai tráng.

Đo độ số Ngũ Hành Ấu Tráng Lão phải qua 12 cung tính đường Sinh Vượng – Tử Tuyệt của vòng Trường Sinh, gặp Thai, Dưỡng, Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng là tốt, vì 7 cung này Ngũ Hành đang trong giai đoạn phát triển từ Ấu đến Tráng, còn 5 cung Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt là xấu, do đang ở giai đoạn từ Tráng qua Lão (xem hình 2).
THAI : là khí kết tinh khi Âm Dương kết hợp.
DƯỠNG : khí đã hình thành (khí thiếu dương hay thiếu âm)
SINH (Trường Sinh) : khí đang phát triển, còn non.
DỤC (Mộc Dục) :khí bắt đầu trưởng thành.
4 giai đoạn Thai – Dưỡng – Sinh – Dục thuộc dạng Ấu, khi từ khí thiếu dương hay thiếu âm (Thai, Dưỡng) chuyển sang khí thái dương hay thái âm (Sinh, Dục), tức đã đủ lông đủ cánh.
ĐỚI (Quan Đới) :khí bắt đầu tăng trưởng
LÂM (Lâm Quan) : khí đã thịnh (thái dương, thái âm đã đầy đặn)
VƯỢNG (Đế Vượng) : khí tráng cực
SUY : khí bắt đầu suy yếu dần, vì đã qua thời kỳ tráng kiện, thiếu âm hay thiếu dương bắt đầu phát sinh.
4 giai đoạn Đới – Lâm – Vượng – Suy thuộc Tráng đi từ khí đang cực thịnh (Đới, Lâm, Vượng) sang suy yếu (Suy).
BỆNH : khí già nua nên bệnh lão hóa.
TỬ : khí đã tận.
MỘ : hấp hối chờ chết.
TUYỆT : không còn khí dương hay khí âm, khi thiếu âm hay thiếu dương đang ở giai đoạn chờ kết hợp.
4 giai đoạn Bệnh – Tử – Mộ – Tuyệt thuộc Lão, khi khí thiếu âm, thiếu dương hình thành thì khí thái dương hay thái âm sẽ bị diệt.
Qua Ấu Tráng Lão trong chu kỳ Lục Thập Hoa Giáp với 60 tên gọi, cứ hai cặp Can Chi có chung một tên Ngũ Hành Nạp Âm, và mỗi hành còn gồm 6 tên gọi khác nhau để đánh dấu các giai đoạn Ấu, Tráng, Lão nói trên.
Như hành Thổ có “Lục Thổ” có thứ tự : 1- Lộ Bàng Thổ, 2- Thành Đầu Thổ, 3- Ốc Thượng Thổ , 4- Bích Thượng Thổ, 5- Đại Trạch Thổ và 6- Sa Trung Thổ. Hành nào là Ấu, Tráng, Lão của vòng Trường Sinh thuộc giai đoạn nào, cùng Cung Phi nam nữ chúng ta có bảng kê trước đây.
– Nếu Ngũ Hành đi từ Âu rồi trở về Ấu (theo chu kỳ 60 năm) lúc về già sẽ hồi xuân, mang tính trẻ trung vô tư như thời niên thiếu (Ấu), nếu mệnh hợp có tài lộc, hưởng được thú an nhàn, còn mệnh khắc phải chịu gian nan, sống trong tuổi già phải nhờ con cháu nuôi dưỡng như khi mới ra đời.
– Nếu Ngũ Hành đi từ Tráng, Lão, Ấu sang Tráng nếu bị khắc sẽ có tiền cát hâu hung; nếu đi từ Lão, Ấu, Tráng rồi về Lão dù mệnh khắc cũng đều có hậu vận tốt đẹp.
Đó là tính chất của mọi loại ngũ hành, để tính hành nào non, hành nào trưởng thành, mạnh mẽ và hành nào sắp cạn kiệt, suy thoái.
Có nhiều trường hợp cần luận thêm :
– Thí dụ : Hải Trung Kim (kim dưới biển), tính theo biện chứng sinh khắc.
Khi tương sinh có Thổ sinh Kim và Kim sinh Thủy :
– Thổ sinh Kim : thì Thổ hao Kim lợi, nhưng hành Thổ nào cho hành Kim được lợi ? Xét qua bảng Lục Thổ chỉ có hai loại hành Thổ có thể cho Kim lợi, là Sa Trung Thổ, Đại Trạch Thổ hoặc tối thiểu là Lộ Bàng Thổ, là những hành Thổ có thể tạo ra kim loại tức Kim được sinh nhập.
– Còn Kim sinh Thủy : Kim hao Thủy lợi là sinh xuất xấu. Nhưng xấu hay tốt với hành Thủy nào ? Khi xét bảng Lục Thủy chỉ có Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy mới làm cho hành Kim gặp hao tổn, còn Giang Hà Thủy, Tuyền Trung Thủy và Trường Lưu Thủy, hành Kim ít bị tổn hao, nếu gặp Thiên Hà Thủy lại không tương sinh tương khắc với Kim.
Khi tương khắc cũng tính theo biện chứng trên, đồng thời hành bị khắc (là hành đứng sau) đang trong giai đoạn Ấu, Tráng hay Lão và độ số ở vòng Trường Sinh như thế nào, để tính cát hung cho thích hợp.

NGŨ MỆNH ĐẶC QUÁI



“Ngũ mệnh đặc quái” sẽ cho thấy Thiên Can và Địa Chi khi cùng một ngũ hành, phương vị với Bát Quái sẽ cùng có những cách hóa hợp xung cát hung giống nhau.
Bảng này coi về đường công danh sự nghiệp hơn là xem gia đạo, hôn nhân, xin xem bảng Hiệp hôn định cuộc và Bát quái định cuộc.
– Hành KIM :
Thiên Can có Canh – Tân, Địa Chi có Thân – Dậu khi gặp Mệnh – Ngũ Hành sau đây sẽ có những hợp hóa xung như sau :
  • KIỀN hành Kim : Số công danh phú quý, tài lộc vào ra như nước.
  • KHẢM hành Thủy : Bềnh bồng chìm nổi (Kim sinh Thủy), tổn hao nhiều.
  • CẤN hành Thổ : Nên ẩn cư dù Thổ sinh Kim, để hưởng thú an nhàn là tốt.
  • CHẤN hành Mộc : Toại ý, toại chí trong chừng mực không to lắm.
  • TỐN hành Mộc : Mùa Xuân Hạ có lộc, còn mùa Thu Đông kém lộc.
  • KHÔN hành Thổ : Nhờ được phúc đức từ âm tổ, có công danh địa vị vững (Thổ sinh Kim)
  • LY hành Hỏa : Không được sở đắc nhiều.
  • ĐOÀI hành Kim : Số đắc địa – tốt

– Hành MỘC :
Thiên Can có Giáp – Ất, Địa Chi có Dần – Mão. Khi gặp Mệnh – Ngũ Hành sau đây sẽ có những hợp hóa xung như sau :
  • KIỀN hành Kim : Có nhiều hão huyền, sống thiếu thực tê, nên không thành công.
  • KHẢM hành Thủy : Bị bế tắc, nhưng tiền hung hậu kiết, làm lớn lại không bền.
  • CẤN hành Thổ : Tốt khi Xuân Hạ đến, xấu khi Thu Đông về.
  • CHẤN hành Mộc : Có vinh hoa phú quý.
  • TỐN hành Mộc : Tuổi nhỏ nhiều gian nan, trắc trở nhưng về hậu vận sẽ tốt hơn.
  • KHÔN hành Thổ : Khi thời vận đến mới phát tài lộc.
  • LY hành Hỏa : Bị tổn tài hao của.
  • ĐOÀI hành Kim : mùa Thu mới khởi sắc có tài lộc.

– Hành THỦY :
Thiên Can có Nhâm – Quý, Địa Chi có Hợi – Tý. Khi gặp Mệnh – Ngũ Hành sau đây sẽ có những hợp hóa xung như sau :
  • KIỀN hành Kim : Gặp thời cơ vô cùng phát đạt như nước chảy xuôi, nhiều thuận lợi.
  • KHẢM hành Thủy : Bị hãm địa lúc cát lúc hung, tài lộc bất định, nhiều suy nghĩ viễn vông.
  • CẤN hành Thổ : Gặp nhiều hiểm trở.
  • CHẤN hành Mộc : Dù được sở cầu như ý nhưng thân xác không được nhàn hạ.
  • TỐN hành Mộc : Sóng gió, bôn ba lập nghiệp. Về mùa Thu Đông coi chừng tán tài tản lộc.
  • KHÔN hành Thổ : Số nhàn hạ có tài lộc.
  • LY hành Hỏa : Số ba chìm bảy nổi, khắc khổ, gian truân, thành bại đều có.
  • ĐOÀI hành Kim : Kim sinh Thủy nên tài lộc dồi dào, công danh thăng tiến.

– Hành HỎA :
Thiên Can có Bính – Đinh, Địa Chi có Tỵ – Ngọ. Khi gặp Mệnh – Ngũ Hành sau đây sẽ có những hợp hóa xung như sau :
  • KIỀN hành Kim : Tính quang minh, có trí thông minh, nếu thêm hào vị tốt sẽ có địa vị cao.
  • KHẢM hành Thủy : Gặp phản phúc, tiểu nhân quấy phá (Thủy khắc Hỏa).
  • CẤN hành Thổ : Hao tài, tổn thọ.
  • CHẤN hành Mộc : Dù Mộc sinh Hỏa nhưng tài lộc giữ không bền.
  • TỐN hành Mộc : Như lửa gặp gió, bạo phát, nên có cơ hội nên khởi sự ngay.
  • KHÔN hành Thổ : Tuy không gian nan nhưng lại nhiều lo nghĩ.
  • LY hành Hỏa : Lửa gặp lửa sẽ bốc, nhưng không nhiều may mắn. Có tiểu nhân rình rập ám hại.
  • ĐOÀI hành Kim : Tính hay nghi ngờ, công việc trì trệ, tài lộc kém.

– Hành THỔ :
Gồm các cung KHÔN – CẤN, Thiên Can có Mậu – Kỷ, Địa Chi có Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Khi gặp các Mệnh – Ngũ Hành sau đây sẽ có những hợp hóa xung như sau :
  • KIỀN hành Kim : Thời cơ bất nhất nên vận lúc cát lúc hung.
  • KHẢM hành Thủy : hãm địa, công viêc không toại ý.
  • CẤN hành Thổ : Vào những tháng Tứ Mộ (các tiết Thanh Minh, Tiểu Thử, Hàn Lộ và Tiểu Hàn, tức Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) sẽ có tài lộc tốt.
  • CHẤN hành Mộc : Có thương tổn tài vật, làm nhiều cung không đủ cầu, vất vả.
  • TỐN hành Mộc : Công việc nhiều vất vả nhưng được bù đắp lại bằng vật chất, chỉ đủ cơm áo.
  • KHÔN hành Thổ : Phúc lộc trùng trùng, chức vị thăng tiến, buôn bán mua một bán mười.
  • LY hành Hỏa : Được bù đắp những công việc đã làm, tài lộc gia trạch cũng hơn mọi người.
  • ĐOÀI hành Kim : bôn ba không qua thời vận vì lúc cát lúc hung, lao đao nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu.

Hiệp Hôn Định Cuộc

Trong bảng “Ngũ Hành hiệp hôn” sau đây (Hình 1) tính độ cát hung cho các cung mệnh Ngũ Hành nam nữ khi cưới vợ lấy chồng. Để biết sự Sinh Khắc của Ngũ Hành, xin xem bài “Ngũ Hành và Ngũ mệnh đặc quái”.



Hình 1 - Ngũ hành hiệp hôn
Ngoài những cách sinh khắc nói trong biện chứng, Ngũ hành còn có thuyết tuy cùng một hành nhưng có sinh (tương hợp) có khắc (xung, hình, khắc), tuổi nào hợp nhau và cân được hành nào hô trợ để có cách hợp, hay hóa giải cách khắc, như sau :
Tương Sinh
  • LƯỠNG KIM thành khí (hợp thành vật dụng)
  • LƯỠNG THỔ thành sơn (hợp lại thành núi)
  • LƯỠNG MỘC thành lâm (hợp lại thành rừng cây)
  • LƯỠNG HỎA thành viên (hợp thành sức nóng)
  • LƯỠNG THỦY thành xuyên (hợp lại thành sông)

Tương Khắc
  • Lưỡng KIM khuyết (bể mất một)
  • Lưỡng MỘC chiết  (gảy mất một)
  • Lưỡng THỦY kiệt    (khô cạn hết)
  • Lưỡng HỎA diệt (tắt tất cả)
  • Lưỡng THỔ liệt (nhảo nát không dùng được)

Nên khi xét biện chứng của ngũ hành, chúng ta nên xét đến yếu tố nạp âm, vì khắc chưa phải đã hung, còn sinh chưa hẳn đã tốt.
Khi luận các cách sinh khắc trên, người xưa đã lây biện chứng đê giải thích :
Nói về HÀNH KIM :
Muốn lưỡng Kim thành khí, mệnh phải thuộc Hải Trung Kim, Sa Trung Kim hoặc Bạch Lạp Kim tức kim loại chưa tinh chế, phải nhờ có Hỏa mới thành khí, nhưng phải là Lư Trung Hỏa hay Phù Đăng Hỏa mới thích hợp.
Những Hỏa khác khắc kỵ với Kim (Hỏa khắc Kim). Như Thoa Xuyến Kim, Kiếm Phong Kim, Kim Bạch Kim gặp Thiên Thượng Hỏa, Tích Lịch Hỏa trở thành Kim khuyết, ví như kim loại mà gặp lửa sẽ bị nóng chảy hay sứt mẻ.
Nói về HÀNH MỘC :
Khi muốn lưỡng Mộc thành lâm, tức phải có nhiều cây chụm lại mới thành rừng, gồm những cây như Tùng Bá Mộc, Dương Liễu Mộc hay Bình Địa Mộc, nhưng phải nhờ Đại Trạch Thổ, Sa Trung Thổ hay Lộ Bàng Thổ thuộc những vùng đất lớn, nên Tùng Bá và Dương Liễu Mộc không khắc Thổ, trái lại phải nhờ Thổ. Còn Đại Lâm Mộc khắc với ba hành Thổ trên (khắc xuất), nhưng gặp Kim sẽ thành Mộc chiết (khắc nhập).
Nói về HÀNH THỦY :
Khi lưỡng Thủy thành xuyên phải là Tuyền Trung Thủy phối hợp với Đại Khê Thủy hay Giang Hà Thủy phối hợp với Trường Lưu Thủy, hoặc cả hai phối hợp với Đại Hải Thủy mới thành sông to, biển lớn. Những hành Thủy này tạo dựng thành công bằng chính bản thân không nhờ ai (như Kim, Mộc), chỉ có Thiên Hà Thủy không phối hợp được với bất cứ mệnh Thủy nào khác.
Thổ chỉ khắc được Thủy làm Thủy kiệt, với các hành như Tuyền Trung Thủy, Đại Khê Thủy, Trường Lưu Thủy, đất bồi làm mất dòng chảy của nước; nhưng không chế ngự được với Giang Hà Thủy, Đại Hải Thủy những sông to biển lớn hay Thiên Hà Thủy nước trên trời.
Nói về HÀNH HỎA :
Để được lưỡng Hỏa thành viên phải có Lư Trung Hỏa phối hợp với Phù Đăng Hỏa, hay Sơn Đầu Hỏa với Sơn Hạ Hỏa, hoặc Tích Lịch Hỏa với Thiên Thượng Hỏa. Về 4 mệnh Hỏa đầu cần có thêm Mộc để đạt đến mục đích lửa to cháy lớn, được sinh nhập (Mộc sinh Hỏa), còn hai hành Hỏa từ trên trời không cần đến Mộc vẫn phát huy được tính cách lưỡng Hỏa thành viên của mình.
Còn Hỏa diệt khi Lư Trung, Phù Đăng, Sơn Đầu, Sơn Hạ Hỏa gặp phải nước (Thủy khắc Hỏa) là khắc nhập. Riêng Tích Lịch Hỏa, Thiên Thượng Hỏa chỉ khắc Thiên Hà Thủy.
Nói về HÀNH THỔ :
Muốn lưỡng Thổ thành sơn, chỉ có Lộ Bàng Thổ, Sa Trung Thổ hay Đại Trạch Thổ phối hợp nhau không cần sự tiếp tay của những hành khác, 3 mệnh Thổ còn lại không thể thành núi vì những Thổ này rời rạc và nhỏ bé, muốn thành núi phải nhờ đến Hỏa tiếp tay diệt Mộc, tức lửa đốt cháy cây để thành đất. 3 mệnh Lộ Bàng, Sa Trung, Đại Trạch Thổ nếu có Hỏa sẽ thêm tốt, công danh sự nghiệp sẽ phất càng cao thêm.
Tính đến Thổ liêt cả lục Thổ đều kỵ Mộc, tức khắc nhập (Mộc khắc Thổ), cây có thể mọc khắp nơi trên mọi loại đất, từ đất nóc nhà, đất bờ tường, đầu thành hay đất đầm lầy, bãi cát, đường lộ; ngoài Mộc nhiêu mệnh Thổ còn đại kỵ khi gặp phải các hành Thủy sau đây, dù là khắc xuất nhưng từ thứ hung sang đại hung :
– Lộ Bàng Thổ và Đại Trạch Thổ gặp Giang Hà Thủy và Trường Lưu Thủy, sẽ làm cho đất lỡ lún.
– Sa Trung Thổ gặp Đại Khê Thủy hay Tuyền Trung Thủy làm cho sói mòn.
– Thành Đầu Thổ, Bích Thượng Thổ và Ốc Thượng Thổ rất sợ Thiên Hà Thủy làm cho đất nhão nhoẹt đến hủy diệt.
Biện  pháp hóa giải xung khắc
Để thành công qua các cách trên, như lưỡng Kim thành khí phải nhờ có Hỏa, lưỡng Mộc thành lâm phải có Thổ, lưỡng Hỏa thành viên phải có Mộc và lưỡng Thổ thành sơn phải có Hỏa, còn lưỡng Thủy thành xuyên không cần mệnh nào gián tiếp hỗ trợ.
Những hành gián tiếp hỗ trợ được hiểu theo nghĩa đen như sau : trong công việc kinh doanh hai người cùng hợp tác, nếu cùng một mệnh cần thêm người thứ ba phục vụ, hành Kim tìm người mệnh Hỏa, hành Mộc tìm người mệnh Thổ, hành Hỏa tìm người mệnh Mộc, hành Thổ tìm người mệnh Hỏa. Trong đó nên tránh những mệnh tương khắc.
Còn trong hôn sự, cổ nhân thường có câu “nhất gái lớn hai, nhì trai hơn một” qua những điển hình sau.
Thí dụ : trai Kỷ Sửu lấy gái Canh Dần (trai hơn một), hay gái Canh Dần lấy trai Nhâm Thìn (gái lớn hai) sẽ hợp tốt theo câu phú trên.
Tính về sinh khắc : trai Kỷ Sửu mang hành Hỏa (Tích Lịch Hỏa) lấy gái Canh Dần (Tùng Bá Mộc) là Mộc sinh Hỏa, ở cách này người con gái sẽ trở thành nô lệ hơn là vợ chồng hạnh phúc, do gặp cảnh chồng chúa vợ tôi. Hậu quả về sau gia đạo thường bất hòa, trước tốt sau hung.
Còn gái Canh Dần lấy trai Nhâm Thìn (Trường Lưu Thủy) là Thủy sinh Mộc, tức người chồng sẽ lo cho vợ con, gia đình hòa thuận, cùng nhau “tát bể đông cũng cạn”, sẽ mang đến giàu sang phú quý. Bởi lẽ thường người vợ lớn tuổi hơn chồng trước sẽ biết tự lo cho bản thân, sau lo cho chồng con, không thụ động theo cảnh thường thấy ở những đôi vợ chồng. Còn người chồng tuy nhỏ tuổi nhưng lại là gia trưởng cũng biết lo lắng cho gia đình. Cả hai cùng bươn trải xây dựng cơ ngơi, không ai thụ động, nên của cải càng thêm lớn.
Còn vợ chồng đồng mệnh (không theo tuổi tác chỉ tính theo Ngũ Hành nạp âm), nên xem diễn giải sinh khắc đã nói, và sinh con theo tính tương hợp là tốt, còn sinh theo tính tương khắc là xấu. Trong công việc còn có thể thay đổi người thứ ba, với con cái chúng sẽ theo đuổi vận mệnh vợ chồng đến cuối đời.
Trong hôn nhân phần xem tuổi vợ chồng qua Ngũ Hành sinh khắc, nhiều người thường lo lắng như trai mệnh Thổ lấy gái mệnh Mộc (Mộc khắc Thổ) sẽ yểu thọ, vì cây sẽ hút hết chất màu mở của đất v.v…
Tuy nhiên, trong 5 hành đều có tính chất riêng là phần nạp âm, như Thổ có Lộ bàng Thổ, Sa trung Thổ, Đại trạch Thổ v.v… Nên khi gặp khắc mà tốt, còn thấy sinh lại xấu. Sau đây là tính chất sinh khắc của nạp âm :
HÀNH KIM :
Kiếm, Sa Kim phong lưỡng ban kim
Mộc mệnh nhược phòng tức khắc hiềm
Ngoại hữu tứ Kim giải kỵ Hỏa
Kiếm sa vô Hỏa bất thành hình.
Giải thích : Đừng nghĩ Hỏa khắc Kim, nếu mệnh là Kiếm Phong Kim và Sa Trung Kim mà hợp cùng người mệnh Hỏa trong hôn nhân, lại tốt đẹp vô cùng.
Kiếm Phong Kim (vàng trong kiếm) và Sa TrungKim (vàng trong cát), nếu không có lửa (Hỏa) thì không thành vật dụng. Nhưng cả hai khắc với Mộc (Kim khắc Mộc) vì hình kỵ, dù Mộc hao Kim lợi (Kim được khắc xuất, mất phần khắc) nhưng vẫn chịu thế tiền cát hậu hung (trước tốt sau xấu), do Kim chưa tinh chế nên không hại được Mộc vượng, không chém được cây lại thêm tổn hại.
4 hành Kim còn lại là Hải Trung Kim (vàng trong biển), Bạch Lạp Kim (vàng trong sáp), Thoa Xuyến Kim (vàng trang sức) và Kim Bạch Kim (kim loại màu) đều kỵ hành Hỏa.
HÀNH  HỎA :
Phù Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu
Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu
Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa
Thủy trung nhất ngô cân vương hâu
Giải thích : Ba loại Phù Đăng Hỏa (lửa đèn dầu), Lư Trung Hỏa (lửa bếp lò) và Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi) gặp hành Thủy sẽ khắc kỵ. Khi gặp nước ba thứ lửa trên sẽ bị dập tắt, đúng nghĩa Thủy khắc Hỏa, thuộc diện khắc nhập mất phần phúc.
Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại cần phối hợp với hành Thủy, bởi có nước thì càng phát huy được tính chất, khí âm (thủy) gặp khí dương (hỏa) sẽ gây ra sấm sét.
HÀNH  MỘC :
Bình Địa Mộc trung chỉ nhất sinh
Bất phùng Kim giả bất năng thành
Ngũ ban biệt Mộc kỵ Kim loại
Nhược ngộ đương nhiên bất đắc sinh
Giải thích : Trong Lục Mộc chỉ có Bình Địa Mộc (cây trên đất) không sợ Kim (Kim khắc Mộc), mà còn cần hòa hợp mới thành vật hữu dụng (cưa, búa đẻo gọt cây thành vật để dùng như tủ, bàn, ghế).
Những loại Mộc còn lại như Tù̀ng Bá Mộc (cây tùng già), Dương Liễu Mộc (cây dương liễu), Tang Đố Mộc (cây dâu tằm), Thạch Lựu Mộc (cây mọc trên đá) và Đại Lâm Mộc (cây trong rừng già) đều sợ Kim, nếu phối hợp sẽ tử biệt hay nghèo khổ suốt đời (Hưu Tù Tử). Những loại cây trong rừng (Đại Lâm, Tùng Bá), những cây sống chùm gửi (Thạch Lựu), cây còi (Dương Liễu) rất hay bị đốn chặt, khai quang.
HÀNH  THỦY :
Đại Hải Thủy, Thiên Hà Thủy lưu
Nhị ban bất dữ Thổ vi cửu
Ngoại giả đô lai toàn kỵ Thổ
Phùng chi y lộc tất nan cầu.
Giải thích : Đại Hải Thủy (nước biển), Thiên Hà Thủy (nước trên trời) không sợ gặp Thổ dù Thổ khắc Thủy (Thủy hao Thổ lợi) vì đất không ở biển lớn hay trên trời, cả hai phối hợp cùng Thổ càng mau thành công, nếu thành vợ chồng sẽ dễ hiển đạt đường công danh phú quý.
Còn Trường Lưu Thủy (sông dài), Giang Hà Thủy  (sông cái), Tuyền Trung Thủy (nước suối) và Đại Khê Thủy (nước khe) đều kỵ Thổ, nước chỉ làm lợi cho đất, số sẽ vất vả, nghèo khó, vì nước mất mát cho đất thêm màu mở.
HÀNH  THỔ :
Lộ Bàng, Đại Trạch, Sa Trung Thổ
Đắc Mộc như đạt thanh vân lộ
Ngoại hữu tam ban phách Mộc gia
Phùng chi tất mệnh tu nhập mộ.
Giải thích : Lộ Bàng Thổ (đất đường lộ), Đại Trạch Thổ (đất đầm lầy) và Sa Trung Thổ (đất bãi cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, Thổ hao Mộc lợi, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.
Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc Thượng Thổ (đất nóc nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. 3 hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bá Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.

Ngũ hành tương sinh -Tương khắc

Vạn vật đều có mỗi quan hệ lẫn nhau, trong đó có cái này chuyển hóa hay sinh cho cái khác và ngược lại là khắc chế và chống chọi. Từ đó mà tạo ra thế giới vật chất trong đó có con người chũng ta cũng có mỗi quan hệ sinh – khắc
Ngũ hành Tương sinh, tương khắc
–         Trong thế giới vật chất có muôn màu, vạn vật; con người cũng có nhiều loại người. Nhưng dù đa dạng hay phức tạp thế nào đi nữa đều được quy thành các ngũ hành, “- ,+” cụ thể. Và trên thực tế được chia thành 5 ngũ hành tất cả: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa. Trong 5 ngũ hành này lại có mối quan hệ tương sinh, có mỗ quan hệ phản sinh, có mỗi quan hệ tương khắc, và phản khắc. Tất cả chúng đều có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, không thể tách rời, cũng không thể phủ nhận một yếu tố nào cả, chúng tồn tại dựa trên sự tương tác lẫn nhau, trong đó có cái chung cái riêng.
–         Mối quan hệ ngũ hành tương sinh: Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:
 Ngũ hành tương sinh  Tương khắc
  • KIM sinh THỦY
  • THỦY sinh MỘC
  • MỘC sinh HỎA
  • HỎA sinh THỔ
  • THỔ sinh KIM.
Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.
–         Mối quan hệ ngũ hành tương khắc: Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.
Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:

  • KIM khắc MỘC.
  • MỘC khắc THỔ.
  • THỔ khắc THỦY.
  • THỦY khắc HỎA.
  • HỎA khắc KIM.
Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời, nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.

–         Ngũ hành phản sinh: Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

  • Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
  • Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.
  • Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
  • Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
  • Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.
–         Ngũ hành phản khắc: Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

  • Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
  • Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
  • Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
  • Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
  • Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.
Chính vì vậy trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết rõ được các mỗi quan hệ đó sẽ biết được sự tinh tế trong mối quan hệ của vạn vật, của trời đất, và con người.

CHỌN NĂM SINH CON THEO PHỤ MẪU TẦM TỬ TUẾ- KHƯƠNG THƯỢNG CHI THỦ!

Tục là Âm Dương tầm tử ,thọ thai nhờ khí huyết của cha mẹ sinh ra con .
Cách tính :
Tý -Sửu -Dần –Mão –Thìn -Tị -Ngọ -Mùi –Thân -Dậu -Tuất -Hợi 
Chỉ dùng Địa chi ,không dùng Thiên can.
Từ cung tuổi của cha tính là 1 thuận từng cung >đếm tới tuổi mẹ >rồi thuận tới tuổi con .Mỗi một tuổi không được đếm 2 lần.
Nếu từ tuổi của cha đếm đến tuổi của mẹ mà gặp tuổi của con trước thì bỏ cung đó không đếm.

Thí dụ :
Cha tuổi Hợi -Mẹ tuổi Mùi –sinh con tuổi Ngọ .Thì từ tuổi Hợi của cha đếm là 1 –Tý là 2 -Sửu là 3 -Dần là 4 –Mão là 5 –Thìn là 6 -Tị là 7 .Tới 8 là Ngọ ,là tuổi của con ,tuổi của con ở trước tuổi của mẹ nên bỏ không tính ,qua Mùi là 8 –Thân là 9 -Dậu là 10 -Tuất là 11 -Hợi là 12 ,nhưng vì là tuổi của cha nên cũng bỏ không tính ,qua Tý là 12 -Sửu là 1 -Dần là 2 –Mão là 3 –Thìn là 4 -Tị là 5 -tới Ngọ là 6 ,là tuổi của con .
Vậy đứa bé này là số 6 –Nông nghiệp .
Thí dụ :
Cha tuổi Sửu -Mẹ tuổi Mão muốn sinh con tuổi gì thì tốt .
Từ tuổi Sửu của cha đếm là 1 ,thuận đến Dần là 2 >Mão là 3 >Thìn là 4 >Tị 5 >Ngọ 6 >Mùi 7 >Thân 8 >Dậu 9 >Tuất 10 >Hợi 11 >Tý 12 .
Vậy những năm Thìn -Ngọ -Thân -Dậu - Hợi là những năm sinh con sẽ tốt .


*Nếu như tuổi con cùng tuổi với cha thì chính là số 1 .Cho nên các cụ thường hay bảo "con ẩn tuổi cha là số Công hầu" là vậy đó .
*Nếu như tuổi con trùng với tuổi mẹ thì cũng từ tuổi của cha tính xuôi tới tuổi của mẹ ,qua 1 vòng 12 cung ,rồi bỏ tuổi của cha ,tính đến tuổi của con .

1.Quyền quý
2.Nhân từ 
3.Hung bạo
4.Khoái lạc
5.Ly tổ
6.Nông nghiệp
7.Phá sản
8.Thương trường
9.Đắc lộc
10.Vô duyên
11.Hữu duyên
12.Cô quả

Ý nghĩa 12 cung :


1.Quyền quý
Gặp chữ quyền quý tốt thay.
Thông minh sáng dạ ít ai dám bì.
Cầm viết ,đọc chữ đề thi,
Siêng năng ắt đậu vậy thì chẳng sai.
Gặp lúc niên vận thời may,
Trúng chữ quyền quý sinh thai đặng mùa .
Cũng như bông trái nở đua,
Gặp xuân được tốt thuận mùa giúp ta.
Người có trí óc sâu xa ,
Gặp thời :dốt nát được mà làm quan.
Không thầy ,cũng thợ ,cũng làng,
Chủ khóm ,chủ ấp ,được sinh tuổi mình.
Nữ nhân trúng tuổi :thông minh,
Học hành thêu tiểu gia đình quản bao.
Có chồng gặp chổ sang giàu ,
Gặp nơi quyền quý mai sau hưởng nhờ.


2.Nhân từ 
Sinh mà gặp chữ Nhân từ,
Thấy ai nghèo khó tiền dư giúp liền.
Gần kẻ nhân đức lòng hiền ,
Lánh xa kẻ dữ đảo điên tâm tà.
Giận ai một chút rầy la,
Lòng không cố chấp người ta làm gì .
Ai tới cậy mượn sự chi,
Giúp tiền ,giúp của ,lại còn giúp công.
Ngày sau đem dạ phản tâm,
Để lâu đòi hỏi : mặt đầm mắng ta .
Làm quen cũng tới lân la ,
Năn nỉ hỏi mượn : thì ta cũng giùm.
Miệng mở như hổ như hùm,
Khẩu xà tâm phật giận cùng làm chi.
Lâm nguy người khác giải nguy.
Giúp đỡ người đó ,mong gì trả ơn .


3.Hung bạo
Hung bạo như thể Tần binh,
Tàn sát thiên hạ đốt dinh nhà Tần.
Anh em cô bác thích thân,
Đi xa thương nhớ ,ở gần khắc xung.
Bạc tiền người dưng giúp cùng,
Anh em giàu có thì ta không màng.
Làm ăn bạo phát bạo tàn ,
Tiền bạc như nước cũng tan hết liền.
Tính người nóng nảy tự nhiên,
Gặp ai thách đố ,chẳng kiêng sợ gì .
Ai mà biết lỗi thì thôi ,
Gặp mà năn nỉ một hồi dịu ngay.
Thương người lỡ bước trái tay ,
Bạc tiền ta giúp ,sau này quên ơn .
Có hoỉ sinh giận sinh hờn ,
Đòi lâu không trả nổi cơn la rày .


4.Khoái lạc
Gặp chữ Khoái lạc sinh ra,
Ham trồng kiểng vật ,bông hoa chưng bày .
Cải lương ,hát bội nào hay,
Hồi thưở lúc nhỏ đêm ngày cùng đi,
Cửa nhà sơn phết tứ vi ,
Treo hình ,dán liễn xem thì đẹp thay.
Nữ nhân trâm giắt ,lượt cài ,
Thoa son ,đánh phấn dồi mài thấy mê.
Áo quần thì sắm phủ phê,
Đủ màu đủ sắc tứ bề nghênh ngang.
Tai nghe kèn thổi trống vang,
Cha mẹ cản trở chẳng an trong lòng.
Đổ bác không sót 1 sòng ,
Ai kêu ai rũ cũng rong đi liền,
Trước thời phá của chẳng yên ,
Hậu vận làm có bạc tiền tụ ngay.


5. Ly tổ
Sinh nhằm ly tổ bằng nay ,
Không nhỏ thì lớn cách rày mẹ cha.
Giàu có ăn học xứ xa,
Lâm vô nghèo khổ trốn mà bỏ đi 
Nhiều lúc chịu chữ hàn vi ,
Đi xa xứ khác vậy mà làm nên.
Đầu tiên cầm của chẳng bền ,
Giống của phi lý ,như lên mây hồng.
Nhiều lớp nhà cửa không xong,
Mua cất rồi bán long đong đi hoài .
Tuổi muộn rồi cũng có ngày ,
Gia đình đứng vững ở rày mới an .
Tuổi nhỏ lao lý chớ than,
Ba mươi bạo phát rã tan có hoài .
Ở cho ngay thẳng mới hay ,
Nhờ trời ngó lại có ngày ắt nên .


6.Nông nghiệp
Nông nghiệp cố gắng giàu ngay,
Thức khuya dậy sớm cấy cày phải lo.
Cày sâu cuốc bẩm đất gò ,
Đem xuống chỗ trũng đặng cho nước tràn .
Bạn bè đãi như người sang ,
Ăn uống tử tế cuốc ban thật tình .
Đứng ở chúng nó bất bình ,
Tham công tiếc việc hại mình thất ngay .
Làm ruộng nhờ cuốc ,nhờ cày ,
Phát cho sạch gốc cỏ rày không lên .
Đắp bờ giữ nước đôi bên ,
Ít bữa dạo ruộng đừng quên hại rày .
Giữ chữ nông nghiệp cực thay ,
Hết mùa cấy gặt ,gác cày nghỉ ngơi .
Lúc trúng ,có giá ăn chơi ,
Thất ,đong vừa đủ cũng thời có ăn .


7.Phá sản
Gặp chữ phá bại chẳng hay,
Sinh ra đổ bác bạc bài luôn luôn .
Mẹ cha giàu để của muôn ,
Bán đánh thua hết nằm buồn thở ra.
Bán heo ,bán vịt ,bán gà ,
Đồ đạt cầm hết thua mà sạch trơn .
Vợ chồng đánh lộn giận hờn ,
Đập đồ đổ nát còn hơn thua bài .
Vợ chồng ít bữa nguôi ngoai ,
Nhà cửa bán hết rồi thì đi buôn .
Hết vốn nghĩ lại thêm buồn ,
Gặp chữ phá bại luồng xuồng quá tay .
Hậu vận cũng đặng khá ngay ,
Gắng công mài sắt có ngày nên kim.
Thiệt là ba nổi bảy chìm ,
Tuổi muộn mới khá trở nên vững vàng .


8.Thương trường
Thương trường là nghề bán buôn ,
Ra đi làm ruộng luôn luôn thất hoài .
Tức giận không đủ để xài ,
Tưởng nghề thày thuốc có ngày ắt nên .
Tính rồi viết bảng treo lên ,
Dựng kệ , bổ thuốc ,đề tên tuổi rày .
Coi mạch nói chứng thật hay ,
Hồi uống không mạnh bệnh ngày nặng thêm .
Nghề thuốc thấy cũng chẳng êm ,
Sang qua buôn bán : thử bền hay không ?
Mua đồ chở đi ắt xong ,
Vốn liếng mua hết một trăm mười đồng.
Kéo buồm chạy thẳng hướng Đông ,
Sáu tháng tính thử được hơn mười ngàn .
Thuận nghề thương mãi đặng an .
Mấy nghề làm trước gian nan tứ bề.


9.Đắc lộc
Sinh chữ Đắc lộc đủ no ,
Ăn quà ,tiệc cưới : lớp cho lớp mời .
Đi ngang tiệm phố dạo chơi ,
Gặp người quen biết kéo thời vào ngay .
Đã ăn nhậu nhẹt say sưa ,
Mời anh xin lỗi : trưa mai lại nhà .
Tôi có kị cơm ông già ,
Xin đừng mua rượu ,mua trà làm chi .
Anh đừng tưởng (mời) tôi phải đi ,
Đâu dám từ chối vậy thì sao nên .
Thấy người ở xóm kề bên ,
Mới mốt đám cưới : thiệt hên quá chừng .
Bốn giờ có đám làm tuần ,
Chị Hai mới ghé : bảo đừng nấu cơm .
Chỉ đưa cho mình trái thơm ,
Sinh nhằm chữ Lộc :quảy đơm mới hoài .


10.Vô duyên
Người sinh gặp chữ vô duyên ,
Tơ hồng lỡ dỡ chẳng yên nơi nào .
Chổ thấp không dám với cao ,
Gặp nơi sang trọng ai nào màng chi .
Mặt mày coi cũng phương phi ,
Ai thấy cũng ngó cớ gì không thương .
Cũng con ông Xã ,ông Hương ,
Tuổi hai kỳ rưỡi lương khương chưa chồng .
Chàng trai ăn hoc cũng thông ,
Gặp “vô duyên phận” cũng đồng giống cô .
Đi đường thấy gái trầm trồ ,
Đi mau theo chọc : bị cô mắng liền .
Anh này ăn nói vô duyên ,
Không có nhân đạo ,không kiêng chút nào ?
Nói vợ nhiều chổ biết bao ,
Duyên tình lỡ dỡ chổ nào (cũng) chẳng xong.


11.Hữu duyên
Con sinh gặp chữ Hữu duyên ,
Tuổi vừa hai tám (16) nợ duyên ghé lầu .
Nhộn nhàng ong bướm lại gần ,
Kẻ muốn kết nghĩa ,người cần làm sui .
Lăng xăng kẻ tới người lui ,
Con tôi hứa gả an nơi đã rồi .
Con anh có chỗ thời thôi ,
Uổng cho hai trẻ xứng đôi vợ chồng .
Duyên nợ hai tuổi chẳng đồng ,
Khiến anh tới chỗ khó trông nói rày .
Hữu duyên gặp tuổi con trai ,
Nhiều chỗ làm mối làm mai thiếu gì ?
Hiếm nơi hứa gả thiếu chi ,
Ra đường không chọc gái thời cũng theo .
Sinh chữ hữu duyên đắc mèo ,
Vô duyên nam nữ cheo leo 1 mình .


12.Cô quả
Sinh chữ Cô quả chẳng may ,
Làm ăn thiếu hụt không ai giúp mình .
Số ta vất vả linh đinh ,
Người dưng giúp đỡ thiệt tình chẳng sai .
Anh em tới mượn hỏi vay ,
Thấy mặt làm lãng : ta nay không nhờ .
Cô bác ai cũng làm lơ ,
Số ta trơ trọi không nhờ cậy ai .
Rủi ro té ngửa năm ngay ,
Không thấy ai tới nắm tay đỡ mình.
Trúng tuổi Cô quả thiệt tình ,.
Ngày tối đóng cửa như đinh đóng bè .
Thân người như thể chiếc ghe ,
Bị cơn sóng dữ tấp bè cù lao.
Phải chi ta được sang giàu ,
Có kẻ tâng bốc trước sau thiếu gì .